HẢI CẨU BỔ THẬN (60 viên/hộp)
Mã SP: hai cau bo than
140.000 VND
Công dụng: giúp ăn ngon, ngủ được, tăng cường sinh lực cơ thể, giảm đau lưng mỏi gối, bớt tiểu đêm, tăng cường khả năng sinh lý.
Số lượng:      
 
 
Thông tin

Công dụng: giúp ăn ngon, ngủ được, tăng cường sinh lực cơ thể, giảm đau lưng mỏi gối, bớt tiểu đêm, tăng cường khả năng sinh lý.

Thành phần:
1.      Thục địa:                    150mg
2.      Câu kỷ tử:                  100mg
3.      Nhân sâm:                   75mg
4.      Long nhãn:                  60mg
5.      Sơn thù:                      60mg
6.      Dâm dương hoắc:       60mg
7.      Đỗ trọng:                     60mg
8.      Hoài sơn:                    60mg
9.      Khiếm thực:                60mg
10.  Nhục thung dung:      47.5mg
11.  Phá cố chỉ:                    40mg
12.  Ba kích:                     37.5mg
13.  Xích phục linh:             30mg
14.  Hà thủ ô đỏ:                 30mg
15.  Mẫu đơn bì:                 30mg
16.  Đương quy:                 30mg
17.  Tục đoạn:                    30mg
18.  Hải cẩu thận:               10mg
19.  Ích trí:                          20mg
20.  Sa nhân:                       9mg

Cách dùng:
-          30 ngày đầu uống 2-3 lần/ngày, sau bữa ăn khoảng 1 giờ, mỗi lần 2 viên.
-          Sau đó uống duy trì 1-2 lần/ngày, mỗi lần 2 viên.

Lưu ý:
Không dùng cho trẻ em dưới 14 tuổi, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, người bị cao huyết áp.

Nói thêm về các thành phần cấu tạo nên bài Hải cẩu bổ thận Bothana

Hải cẩu thận
Tài liệu cổ chỉ ghi chép về Cẩu thận, hay còn gọi là Hoàng cẩu thận, là dương vật và tinh hoàn của con chó vàng. Tài liệu cổ ghi Cẩu thận có vị mặn, tính đại nhiệt, có tác dụng tráng dương ích tinh, dùng chữa thận suy nhược, liệt dương, di tinh, lưng gối mềm yếu. Những nghiên cứu gần đây cho biết cẩu thận có chứa nội tiết tố đực (androsteron).
Tuy nhiên, có lẽ vì loài Chó biển đa thê, con đực rất lớn so với con cái, một con đực sống với vài chục con cái, nên người xưa còn dùng Hải cẩu thận thay cho Cẩu thận, để chữa bộ phận sinh dục yếu đuối.

Nhân sâm
Còn gọi là Viên sâm, hay Dã nhân sâm, thuộc họ Ngũ gia bì. Bộ phận dùng là rễ củ chế biến rồi phơi hay sấy khô của cây Nhân sâm.
Có nhiều loại Nhân sâm do cách chế biến khác nhau mà được gọi tên khác nhau, trong đó phổ biến là Hồng sâm và Bạch sâm.
Đông y coi sâm là vị thuốc đứng đầu các vị thuốc bổ, theo thứ tự Sâm, Nhung, Quế, Phụ.
Thành phần hóa học cũng như tác dụng dược lý của Nhân sâm đã được rất nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu, có thể kể đến một số tác dụng dược lý điển hình như sau:
-        Tác dụng lên hệ thần kinh làm giảm mệt, tăng hiệu suất làm việc.
-        Tác dụng lên huyết áp và tim làm hạ huyết áp nếu liều cao, và ngược lại tăng nhịp tim và co bóp tim mạnh nếu liều thấp.
-        Tác dụng trên hô hấp: làm tăng hô hấp khi dùng liều nhỏ.
-        Tác dụng đối với chuyển hóa cơ bản: có tác dụng làm hạ đường huyết.
-        Tác dụng đối với sự sinh trưởng và phát dục: nghiên cứu trên động vật cho thấy khi dùng Nhân sâm thì thời gian giao cấu kéo dài.
-        Tác dụng đối với sức chống chọi bệnh tật: tăng sức đề kháng đối với bệnh tật.
Sách cổ ghi Nhân sâm bổ 5 tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận, yên tinh thần, định hồn phách, làm khỏi sợ hãi, trừ tà khí, sáng mắt, uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ,…

Dâm dương hoắc
Thuộc họ Hoàng liên gai. Cây có tên này vì là loại cây có lá dùng cho dê ăn, làm tăng tính chất ham dâm dục.
Tài liệu cổ ghi Dâm dương hoắc có vị cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trợ dương ích tinh, khứ phong thắng thấp, thường dùng làm thuốc bổ can thận, mạnh gân cốt, chống liệt dương, lưng gối mỏi đau, chân tay bải hoải.
Dân gian thường dùng Dâm dương hoắc làm thuốc bổ thận, giúp sự giao cấu, chữa liệt dương, ít tinh dịch.

Nhục thung dung
Vị này ít dùng, nhưng lại rất thường được sử dụng chữa những trường hợp yếu sinh lý, sinh dục.
Sách Thần nông bản thảo xếp Nhục thung dung vào loại “thượng phẩm”.
Nhục thung dung vị ngọt, chua, tính ôn, đại nhiệt, có tác dụng tư âm, bổ thận, ích tinh huyết, tráng dương hoạt cường, dùng trong những trường hợp liệt dương, lưng gối lạnh đau (nam giới), vô sinh bạch đới khí hư (nữ giới), huyết khô, táo bón.

Ba kích
Còn gọi là Ba kích thiên hay Liên châu ba kích. Bộ phận dùng là rễ phơi hay sấy khô, bỏ lõi, của cây Ba kích.
Theo tài liệu cổ thì Ba kích có vị cay ngọt, tính hơi ôn, vào kinhh thận, có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp, dùng chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau.
Trong nhân dân, Ba kích là một vị thuốc bổ trí não và tinh khí, dùng trong các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di mộng tinh, phụ nữ kinh nguyệt không đều.
Đặc biệt ở Trung quốc, Ba kích được dùng trong đơn thuốc “Nhị tiên thang” để chữa bệnh cao huyết áp có kết quả.

Hà thủ ô đỏ
Là rễ củ của cây Hà thủ ô phơi hay sấy khô, còn gọi là Giao đằng.
Dân gian dùng Hà thủ ô làm thuốc bổ, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc.

Đương quy
Đương quy là rễ phơi hay sấy khô của cây Đương quy. Quy là về, vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về mức cũ, nên có tên là Đương quy.
Theo đông y thì Đương quy có vị ngọt, cay, tính ôn, vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh.

Và nhiều vị khác, tạo nên một bài thuốc vừa bổ khí huyết, vừa cân bằng âm dương, tăng cường khả năng sinh lý.

Nhận Xét
Phản hồi:
Tên *
Nội dung *
Rating *
Mã bảo vệ
Captcha
Nhập mã bảo vệ *
SẢN PHẨM KHÁC

RƯỢU TRƯỜNG XUÂN TỬU 34 ° 140.000 VND

HO TÌ BÀ LỘ 18.000 VND